top of page
Frame 12.jpg

ĐÓNG GÓI TÀI SẢN TRÍ TUỆ

1. Khái niệm về Tài sản trí tuệ

Tài sản trí tuệ là gì?

Tài sản trí tuệ (TSTT) là những sản phẩm do trí tuệ con người sáng tạo, ra thông qua các hoạt động tư duy, sáng tạo trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là một loại của tài sản vô hình, không xác định được bởi đặc điểm vật chất của chính nó nhưng lại có giá trị lớn vì có khả năng sinh ra lợi nhuận.

 

Tài sản trí tuệ bao gồm: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ý tưởng; chương trình biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng; sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại; bí quyết kinh doanh, công thức pha chế; giống cây trồng mới, phầm mềm máy tính…

2. Dịch vụ “Đóng gói TSTT”  

  • “Đóng gói TSTT” bởi KA-Uni là thủ tục pháp lý nhằm xác lập quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân đối với TSTT. Đồng thời, nó giúp chống lại sự xâm phạm, làm giả, ăn cắp chất xám để giúp giữ nguyên vẹn quyền sở hữu các đối tượng này bằng các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự.

3. Quyền sở hữu trí tuệ 

Căn cứ quy định tại Khoản 1, khoản 6, Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022)

  • Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

  • Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.

4. Các loại tài sản trí tuệ

Quyền tác giả và quyền liên quan (Khoản 2,3 Điều 4 Luật SHTT)

  • Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

  • Đối với quyền tác giả, TSTT luôn được định hình dưới dáng một tác phẩm. Tức là quyền tác giả không bảo hộ cho ý tưởng mà chỉ bảo vệ cách thức thể hiện của tư duy.

  • Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

 Quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT) 

  • Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

  • Quyền sở hữu công nghiệp bảo vệ các TSTT bao gồm: Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, nhãn hiệu, thiết kế bố trí mạch bán dẫn, bí mật kinh doanh

Quyền đối với giống cây trồng (Khoản 5, Điều 4 Luật SHTT)

  • Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.

5. Đặc điểm của tài sản trí tuệ

  • Tài sản trí tuệ là kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ. Khoa học trong trường hợp này được hiểu theo nghĩa cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn. Công nghệ trong trường hợp này được hiểu là công nghệ có thể chuyển giao độc quyền (ví dụ công nghệ lên men bia) hoặc công nghệ không thể chuyển giao độc quyền (ví dụ công nghệ đào tạo).

  • Tài sản trí tuệ có khả năng tái tạo và phát triển.

  • Tài sản trí tuệ có khả năng bị hao mòn vô hình. Một tài sản trí tuệ có thể được coi là có giá trị lớn ở thời điểm này, nhưng sẽ có những tài sản trí tuệ khác có giá trị cao hơn ở những thời điểm sau đó.

  • Tài sản trí tuệ tồn tại ở dạng thông tin và có khả năng lan truyền vô tận, ví dụ một chương trình phát thanh, truyền hình được phát đi ở một quốc gia thì ngay lập tức nó có thể lan truyền đến tất cả mọi quốc gia trên thế giới.

  • Tài sản trí tuệ dễ bị sao chép, ví dụ một tác phẩm văn học có thể bị sao chép thành nhiều bản, chất lượng thông tin của bản sao tương đương với chất lượng thông tin của bản gốc. Đây là đặc điểm đáng lưu ý, nhất là trong thời đại kĩ thuật số, qua đó cho thấy nếu không có cơ chế pháp luật hữu hiệu để bảo hộ tài sản trí tuệ thì không thể kiểm soát được tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

  • Trong cùng một thời điểm, tài sản trí tuệ có thể nhiều người cùng sử dụng, mà việc sử dụng của người này có thể không hoặc có thể ảnh hưởng tới việc sử dụng của người khác.

  • Tài sản trí tuệ có thể được định giá bằng tiền và có thể được trao đổi trên thị trường, ví dụ có thể mua quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng sáng chế thông qua hợp đồng chuyển giao sáng chế, nhà xuất bản có thể mua quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một tác phẩm văn học.

  • Việc chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản trí tuệ có thể ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.

6. Các biện pháp để bảo hộ tài sản trí tuệ

Biện pháp bảo vệ do chính chủ thể quyền sở hữu trí tuệ

Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:

- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Biện pháp công nghệ quy định tại Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 21 Nghị định 105/2006/NĐ-CP. Các biện pháp công nghệ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

Đưa các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, Văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu, phạm vi, thời hạn bảo hộ và các thông tin khác về quyền sở hữu trí tuệ lên sản phẩm, phương tiện dịch vụ, bản gốc và bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng (sau đây trong Điều này gọi chung là sản phẩm) nhằm thông báo rằng sản phẩm là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ đang được bảo hộ và khuyến cáo người khác không được xâm phạm;

Sử dụng phương tiện hoặc biện pháp kỹ thuật nhằm đánh dấu, nhận biết, phân biệt, bảo vệ sản phẩm được bảo hộ.

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại: Việc yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm quy định tại Điểm này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Điều 21 Nghị định 105/2006/NĐ-CP Điều 21. Thực hiện quyền tự bảo vệ, việc yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện bằng cách thông báo bằng văn bản cho người xâm phạm. Trong văn bản thông báo phải có các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, Văn bằng bảo hộ, phạm vi, thời hạn bảo hộ và phải ấn định một thời hạn hợp lý để người xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm.

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Điểm này được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 105/2006/NĐ-CP Nội dung hướng dẫn Điểm này tại Nghị định 105/2006/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 3 và 4 Điều 1 Nghị định 119/2010/NĐ-CP Điều 23. Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu xử lý xâm phạm. Người yêu cầu xử lý xâm phạm phải gửi kèm theo đơn yêu cầu xử lý xâm phạm các tài liệu, chứng cứ sau đây để chứng minh yêu cầu của mình:

+ Chứng cứ chứng minh là chủ thể quyền nếu người yêu cầu là chủ sở hữu hoặc người được chuyển giao, được thừa kế, kế thừa quyền sở hữu trí tuệ;

+ Chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm đã xảy ra; chứng cứ nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với đơn đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan;

+ Các tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh yêu cầu của mình.”

– Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Mới đây, Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được bổ sung bởi Khoản 10 Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019

Tổ chức, cá nhân là bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu được Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn thanh toán cho mình chi phí hợp lý để thuê luật sư hoặc các chi phí khác theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên lạm dụng thủ tục đó phải bồi thường cho những thiệt hại do việc lạm dụng gây ra, trong đó bao gồm chi phí hợp lý để thuê luật sư. Hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm hành vi cố ý vượt quá phạm vi hoặc mục tiêu của thủ tục này.

Biện pháp bảo vệ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện

  • Biện pháp hành chính là việc cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, cá nhân, tổ chức khác bị thiệt hại do hành vi xâm phạm hoặc phát hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hành chính hiện nay quy định trong Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan. Khi xử lý hành chính, tùy vào hành vi xâm phạm mà cơ quan có thẩm quyền xử phạt cảnh cáo hay phạt tiền và áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung, khắc phục.

  • Biện pháp dân sự là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự trên cơ sở yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự.

  • Biện pháp hình sự là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định là tội phạm theo thủ tục tố tụng hình sự. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được coi là tội phạm khi có đủ các yếu tố cấu thành một trong các tội quy định trong Bộ luật hình sự sau: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157) ; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158); Tội lừa dối khách hàng (Điều 162) ; Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170) ; Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a) ; Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) ; Tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác (Điều 271).

  • Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ là việc cơ quan có thẩm quyền tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Như vậy, để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tùy từng trường hợp mà chủ thể quyền có thể tự bảo vệ hoặc thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Vai trò của tài sản trí tuệ

Vai trò của tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp (DN)

  • Trong xu thế phát triển, hội nhâp kinh tế như hiện nay, DN dù lớn hay nhỏ khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh dù ít hay nhiều đều liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Đây được xem là một tài sản lớn, hữu ích. Đặc biệt là quyền SHTT liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Nó có ý nghĩa ngày càng lớn trong hoạt động kinh doanh, sản xuất và lưu thông hàng hóa của mỗi tổ chức, đơn vị sản xuất kinh doanh. Dưới đây là một vài vai trò của tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp:

  • Các DN khi xây dựng kế hoạch, chiến lược kinh doanh, đã sử dụng các tài sản trí tuệ (TSTT) như  nhãn hiệu, sáng chế kiểu dáng công nghiệp… làm đòn bẩy để tìm kiếm nguồn lực đầu tư vào DN. Hiện nay chúng ta đang sống trong thế giới mà công nghiệp dựa vào sức mạnh trí tuệ của con người là chủ yếu. SHTT trở thành tâm điểm của sự thành công hay thất bại trong kinh tế của các tập đoàn kinh tế hiện đại.

  • Tài sản trí tuệ tác động nhiều đến các hoạt động của DN như: Trong kinh doanh, sản xuất và nó gắn liền với các hoạt động thương mại; TSTT được sinh lợi thông qua việc góp vốn kinh doanh; mua, bán, trao đổi; tạo thế cạnh tranh; cho thuê; … Có nhiều thách thức trong hội nhập mà DN Việt Nam phải đối mặt: việc sử dụng quyền SHTT của người khác; Bảo vệ quyền SHTT khi xuất nhập khẩu hàng hoá; bị ngăn cản khi xuất/nhập khẩu bởi quyền SHTT.

  • Trong các TSTT thì kiểu dáng nhãn hiệu, công nghiệp, tên thương mại có tác động rõ nét nhất. Khi đến tay khách hàng những dấu hiệu này được khắc hoạ hình ảnh của hình ảnh/ dịch vụ của DN trong tiềm thức, cũng như tình cảm của khách hàng. Khi nhắc đến một nhãn hiệu hay kiểu dáng nào đó thì người tiêu dùng có thể nghĩ ngay đến sản phẩm, đặc trưng, lợi ích thậm chí cả nền văn hoá của DN sở hữu các đối tượng đó.

  • Nhãn hiệu chính là công cụ marketing đắc lực đối với DN. Với những định vị khác biệt của nhãn hiệu sẽ giúp DN tấn công vào thị trường mục tiêu. Bên cạnh đó nhãn hiệu còn hỗ trợ cho chính sách mở rộng, giúp cho quá trình phân phối sản phẩm dễ dàng hơn. Bởi một thực tế dễ nhận thấy, khách hàng khi mua hàng sẽ cảm thấy tin tưởng hơn khi mua những hàng hoá có tên gọi hay nhãn hiệu mà họ quen biết từ trước.

  • Nhãn hiệu tốt giúp doanh nghiệp tạo dựng vị thế, hình ảnh vững chắc của DN trên thị trường Nhằm thu hút khách hàng mới, và thu hút đầu tư cũng như thu hút nhân tài.… Nhãn hiệu cũng góp phần trong tăng lợi thế cạnh tranh về giá cho hàng hoá. Ngoài ra một nhãn hiệu đang có mặt trên thị trường cũng là một rào cản vô cùng quan trọng ngăn cản sự thâm nhập của các đối thụ cạnh tranh mới.

  • Trong những lợi thế mà tài sản trí tuệ mang đến cho DN còn phải kể đến sự bảo hộ của Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền và pháp luật trong vấn đề hạn chế và chống lại các đối thủ cạnh tranh lấy cấp TSTT để làm giả (VD: giả nhãn hiệu) nhằm lợi dụng uy tín lớn của DN.

Tóm lại, kinh tế coi tài sản trí tuệ như là một sức cạnh tranh. Nhà khoa học coi tài sản trí tuệ là sức sáng tạo. Xã hội coi tài sản trí tuệ là sức sống. Cạnh tranh trên thế giới hôm nay và ngày mai là cạnh tranh về tài sản trí tuệ mà con người tạo ra.

Vai trò của tài sản trí tuệ trong các trường đại học và Viện nghiên cứu

Tài sản trí tuệ và nghiên cứu khoa học

Thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các trường đại học – viện nghiên cứu sẽ hình thành một số sản phẩm nghiên cứu nhất định. Một vài trong số sản phẩm này có khả năng được cấp bằng sáng chế, nhưng nhiều trong số đó đòi hỏi phải tiếp tục đầu tư nghiên cứu và phát triển hơn nữa trước khi được thương mại hóa. Bằng cách cấp cho các trường đại học và viện nghiên cứu quyền bảo hộ SHTT và cho phép họ được khai thác thương mại hóa, các chính phủ trên khắp thế giới đang cố gắng đẩy nhanh việc chuyển đổi các tài sản trí tuệ này thành các quy trình kỹ thuật sản xuất và sản phẩm công nghiệp, tăng cường quan hệ hợp tác giữa các trường đại học – viện nghiên cứu với các doanh nghiệp

Tài sản trí tuệ và giảng dạy

Ngoài ra, các hoạt động giảng dạy của trường đại học – viện nghiên cứu cũng sẽ tạo ra TSTT, chẳng hạn như tài liệu giảng dạy, luận văn, phần mềm hoặc thiết kế bố trí. Internet và các công cụ hiện đại đã không chỉ thúc đẩy việc truy cập nhiều hơn vào các tài liệu học thuật, mà còn tạo ra sự xung đột lớn hơn về quyền sở hữu trí tuệ của các trường đại học – viện nghiên cứu. Vì vậy, các trường đại học – viện nghiên cứu cần có chính sách SHTT phù hợp để đối phó với khả năng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tài liệu giảng dạy, tiếp cận thông tin học thuật và sử dụng tài liệu của các bên thứ ba.

Theo truyền thống, các trường đại học thường phục xã hội bằng cách cung cấp sinh viên tốt nghiệp để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp sản xuất, dịch vụ…. Với sứ mệnh đó, các trường đại học thường công bố các kết quả nghiên cứu của họ, làm cho chúng trở nên miễn phí. Ngày nay, điều này có thể được xem là không tương thích với những ngành công nghiệp đòi hỏi phải giữ bí mật thông tin và cần được bảo vệ bởi các quyền SHTT, chẳng hạn như các sáng chế. Xu thế toàn cầu hóa nhanh chóng đòi hỏi các trường đại học và viện nghiên cứu phải mở cửa cho sự hợp tác quốc tế. Lúc này, họ phải đảm bảo rằng các kết quả nghiên cứu phải được bảo vệ và quản lý hiệu quả, và chỉ được thực hiện bằng cách sử dụng hệ thống chính sách quản trị TSTT.

8. Các loại hình bảo hộ sở hữu trí tuệ hiện nay?

Hiện nay, có 05 loại sở hữu trí tuệ thuộc quyền bảo hộ của pháp luật là:

  • Quyền tác giả;

  • Quyền liên quan đến tác giả;

  • Quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp;

  • Quyền đăng ký bảo hộ nhãn hiệu;

  • Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý.

9. Ai là người có quyền đăng ký sở hữu trí tuệ theo luật pháp Việt Nam?

Người có quyền đăng ký sở hữu trí tuệ là các chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức hoặc người được ủy quyền nộp đơn.

10. Tại sao phải cần đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ?
  • Bảo vệ sở hữu trí tuệ khuyến khích sự sáng tạo;

  • Bảo vệ sở hữu trí tuệ là bảo vệ lợi ích người tiêu dùng;

  • Bảo vệ sở hữu trí tuệ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh;

  • Bảo vệ sở hữu trí tuệ mang lại lợi ích quốc gia;

  • Bảo vệ sở hữu trí tuệ thúc đẩy kinh doanh;

  • Bảo vệ sở hữu trí tuệ tạo uy tín cho doanh nghiệp.

11. Đăng ký sở hữu trí tuệ ở Việt Nam được bảo hộ trên thế giới không?
  • Đăng ký sở hữu trí tuệ ở Việt Nam KHÔNG được bảo hộ trên thế giới. 

  • Đăng ký sở hữu trí tuệ tại Việt Nam chỉ được bảo hộ ở Việt Nam mà không được hưởng quyền bảo hộ trên bất cứ quốc gia nào khác. Nói một cách đơn giản, đăng ký bảo hộ ở quốc gia nào thì sẽ được bảo hộ tại quốc gia đó.

Tuy nhiên, quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật theo Công ước Berne quy định, 1 tác phẩm nếu đã được đăng ký bảo hộ tại quốc gia là thành viên của Công ước Berne thì sẽ được bảo hộ tại những quốc gia còn lại là thành viên của công ước Berne. Ngoại trừ loại hình này thì tất cả các quyền sở hữu trí tuệ khác đều có phạm vi trong quốc gia đăng ký.

bottom of page